Tin cổ phiếu 28/10/2016

1. VCB

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
VCB            36.3 -1.09% 19.4 2.8

VCB (Khả quan) công bố LNTT 9 tháng đạt 6.318 tỷ đồng, tăng 35,9% so với cùng kỳ và hoàn thành 84% kế hoạch cả năm là 7.500 tỷ đồng; đồng thời bằng 73,3% dự báo cả năm của HSC là 8.650 tỷ đồng (tăng trưởng 26,7%). Tỷ lệ NIM tiếp tục được cải thiện cộng với tăng trưởng tín dụng cao đã giúp lợi nhuận tăng trưởng mạnh. Trong khi đó chi phí dự phòng giảm 4,3% so với cùng kỳ cũng đóng góp vào sự tăng trưởng của lợi nhuận.

Tại thời điểm cuối tháng 9, tín dụng tăng 15,7% so với đầu năm lên 447.883 tỷ đồng (tăng 25,7% so với cùng kỳ). Dư nợ tiếp tục xu hướng chuyển dần về kỳ hạn dài. Dư nợ cho vay kỳ hạn ngắn tăng 13% so với đầu năm lên 369.036 tỷ đồng; dư nợ cho vay trung hạn tăng 15,3% so với đầu năm lên 50.548 tỷ đồng; dư nợ cho vay kỳ hạn dài tăng 21,4% so với đầu năm lên 137.289 tỷ đồng. Theo đó, tại thời điểm cuối tháng 9, cho vay trung dài hạn chiếm 41,9% tổng dư nợ (tại thời điểm cuối 2015 là 40,5%). Theo đó, tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn dùng để cho vay dài hạn tăng từ 25% tại thời điểm cuối 2015 lên 28%. Tuy vậy mức này vẫn thấp hơn nhiều so với mức tối đa 40% theo quy định của NHNN. Như vậy VCB vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng cho vay dài hạn. Điều đáng chú ý là sau khi giảm trong 6 tháng đầu năm (giảm 3,1% so với đầu năm tại thời điểm cuối tháng 6), thì cho vay USD trong Q3 đã tăng đáng kể 12,2% so với Q2. Điều này là do ảnh hưởng của Thông tư 07, mở lại cho vay USD đối với các NHTM từ ngày 1/6/2016 sau khi hạn chế cho vay USD trong phần lớn thời gian 6 tháng đầu năm. Trái lại, cho vay tiền đồng trong Q3 chỉ tăng 3,4% so với Q2. Tuy nhiên, tại thời điểm cuối tháng 9, cho vay tiền đồng tăng 17,3% so với đầu năm, vẫn cao gấp 2 lần mức tăng 8,7% của cho vay USD. Tại thời điểm cuối tháng 9, cho vay USD chiếm 18,2% tổng dư nợ cho vay của VCB. VCB không đưa ra thông tin chi tiết hơn về cơ cấu cho vay trên BCTC chưa kiểm toán. Tuy nhiên ngân hàng cho biết đến cuối tháng 9, cho vay cá nhân chiếm 23% tổng dư nợ cho vay. Theo đó cho vay cá nhận đã tăng 32% so với đầu năm lên khoảng 103 nghìn tỷ đồng. Trên thực tế VCB cũng dự kiến cho vay cá nhân sẽ tăng trưởng 48% trong cả năm 2016.

Tỷ lệ LDR thuần tại thời điểm cuối tháng 9 tăng lên 78,1% từ 77,3% tại thời điểm cuối 2015. Tuy nhiên tỷ lệ này đã trong xu hướng giảm so trong Q1 (là 80,1%) và Q2 (là 79,8%). Riêng trong Q3, vốn huy động khách hàng tăng 7% so với Q2 còn cho vay khách hàng tăng 4,8% so với Q2 nên hệ số LDR tiếp tục giảm. Tỷ lệ LDR tiền đồng là 80% còn tỷ lệ LDR ngoại tệ vẫn ở mức khá thấp là 70,6%. Và với lượng ngoại tệ lớn trong tay, VCB có thể tiếp tục mua trái phiếu chính phủ bằng đồng USD nếu có cơ hội.

Tỷ lệ NIM 9 tháng đầu năm nay tăng 0,09% lên 2,76% từ mức 2,67% 9 tháng đầu năm ngoái và 2,62% của cả năm ngoái. Tuy nhiên so với 6 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ NIM giảm 0,1% từ 2,86%.

Tại thời điểm cuối tháng 9, nợ xấu tăng 8,7% so với đầu năm lên 7.758,2 tỷ đồng. Tỷ lệ NPL là 1,73%, thấp hơn so với 1,84% tại thời điểm cuối năm 2015; và thấp hơn nhiều so với mức 2,48% trong 6 tháng đầu năm 2015. Trong Q3, VCB không xử lý nợ xấu bằng dự phòng và cũng không bán thêm nợ xấu cho VAMC. Tính từ đầu năm, VCB đã xóa 1.403 tỷ đồng nợ xấu (giảm 58,8% so với cùng kỳ); tương đương bằng 0,31% dư nợ cho vay. Hệ số LLR là 128%; tăng từ mức 121% tại thời điểm cuối 2015.

VCB trích lập khoảng 1.721 tỷ đồng dự phòng đầu tư giữ đến ngày đáo hạn trong 9 tháng đầu năm, và phần lớn là dự phòng đối với trái phiếu VAMC. Như vậy, đến cuối tháng 9, VCB đã trích lập khoảng 2.300 tỷ đồng dự phòng trái phiếu VAMC, tương đương 68,5% mệnh giá trái phiếu VAMC mà Ngân hàng hiện nắm giữ, là 3.360 tỷ đồng. Như chúng tôi dự báo, với KQKD vượt kỳ vọng, VCB đã đẩy mạnh quá trình trích lập dự phòng trái phiếu VAMC, với tỷ lệ trích lập lớn hơn nhiều so với mức 20% theo quy định.

Cho năm 2016, HSC dự báo tăng trưởng LNTT là 26,7% – đạt 8.650 tỷ đồng. Chúng tôi đã có những thay đổi nhỏ trong dự báo tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ NIM và chi phí dự phòng. EPS pha loãng là 1.940đ. PB dự phóng 2016 là 2,28 lần.

Lặp lại đánh giá KHẢ QUAN với vị thế đầu ngành ngân hàng – VCB tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của chúng tôi trong số các cổ phiếu ngân hàng với mảng kinh doanh chủ chốt mạnh nhờ lợi thế chi phí huy động thấp, chất lượng tài sản ưu việt và cấu trúc thu nhập tốt. Với khả năng chi phí dự phòng sẽ giảm trong thời gian tới, là điểm khác biệt so với các ngân hàng đã niêm yết, chúng tôi dự báo tăng trưởng LNTT thâm chí sẽ tăng tốc hơn nữa trong trong những năm tới. Và khác với các ngân hàng khác, VCB sẽ dễ dàng chuyển đổi theo yêu cầu của Basel 2 và cũng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể từ những điều chỉnh của Thông tư 36. Giá cổ phiếu đã chịu áp lực bán gần đây do thông tin về giá phát hành cho GIC được đồn đoán sẽ thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Đợt điều chỉnh có thể sẽ là cơ hội tốt để mua vào. Ở mức giá hiện tại, định giá vẫn cao với P/B dự phóng là 2,35 lần, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức P/B đỉnh điểm 3,2 lần trong suốt đợt tăng của cổ phiếu trong năm ngoái.

SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 19/8/16 23/8/16 27/10/16
Khuyến nghị Nắm giữ PHTT Khả quan
Giá mục tiêu 40.3 39.5      

2. CTD

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
CTD          179.4 5.53% 9.3 2.2

Coteccons (CTD – Nắm giữ) đã công bố KQKD 9 tháng đầu năm rất ấn tượng với doanh thu thuần đạt 13.462 tỷ đồng (tăng 64% so với cùng kỳ) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 961 tỷ đồng (tăng 132% so với cùng kỳ). Với kết quả này, CTD đã hoàn thành 82% kế hoạch doanh thu cả năm và 120% kế hoạch LNST cả năm. Tăng trưởng doanh thu tốt nhờ khối lượng hợp đồng lớn và liên tục gia tăng. Trong khi đó, lợi nhuận tăng nhờ (1) tỷ suất lợi nhuận gộp tăng mạnh, đạt 8,8% so với mức 7,6% trong cùng kỳ năm ngoái và (2) hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi. Trong Q3, doanh thu thuần đạt 8.193 tỷ đồng (tăng 39% so với cùng kỳ) và LNST của cổ đông công ty mẹ là 336 tỷ đồng (tăng 84% so với cùng kỳ).

Trong 9 tháng đầu năm, tổng giá trị hợp đồng mới đạt 20.655 tỷ đồng (tăng 38% so với cùng kỳ) so với mức tăng trưởng 70,4% trong cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, các hợp đồng xây dựng dân dụng chiếm khoảng 70% tổng giá trị hợp đồng mới trong khi đó mảng công nghiệp chiếm khoảng 20%, khách sạn & resort và văn phòng & thương mại chiếm khoảng 10%. Tổng giá trị hợp đồng đã ký chưa thực hiện đến hiện tại là 22,3 nghìn tỷ đồng (tăng 48% so với đầu năm) so với 11 nghìn tỷ đồng (tăng 189% so với đầu năm) trong cùng kỳ năm ngoái.

Khó để nhận định là liệu đà tăng trưởng hợp đồng mới có đang chậm lại hay không. Tốc độ tăng trưởng giảm mạnh nhưng do so với mức tăng trưởng mạnh trong cùng kỳ và mức tăng trưởng thực tế vẫn rất ấn tượng. Và thực tế từ các doanh nghiệp phát triển BĐS rằng khi tập trung vào phân khúc cao hơn, số lượng xây dựng sẽ ít hơn. Tuy nhiên, CTD với thị phần áp đảo ở phân khúc cao cấp có thể không bị ảnh hưởng nhiều do sự sụt giảm chung của hoạt động xây dựng. Phần lớn các hoạt động mới ký là cho các dự án thuộc phân khúc nhà ở cao cấp, bao gồm Masteri Villas (với giá trị hợp đồng là 2.813 tỷ đồng), Goldmark City (với giá trị hợp đồng là 2.516 tỷ đồng), Vinhomes Central Park Landmark 81 (với giá trị hợp đồng là 2.810 tỷ đồng, Saigon South Residence (với giá trị hợp đồng là 1.244 tỷ đồng ) và City Garden Giai đoạn 2 (với giá trị hợp đồng là 1.100 tỷ đồng). Gần đây, CTD đã ký một hợp đồng D&B trị giá 4.000 tỷ đồng cho dự án D’Capitale tại Hà Nội, do Tập đoàn Tân Hoàng Minh phát triển. Dự án sẽ hoàn tất trước cuối năm 2018.

Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng lên 8,8% từ 7,6% trong cùng kỳ năm ngoái, theo đó lợi nhuận gộp tăng mạnh đạt 1.190 tỷ đồng (tăng 90% so với cùng kỳ). Với khối lượng công việc cho cả năm và sự tăng đột biến trong phát triển nhà ở, CTD đang có lợi thế trong các đàm phán gần đây với các doanh nghiệp phát triển BĐS và do đó, đàm phán được giá xây dựng và điều khoản tốt nhờ lợi thế thương hiệu mạnh và có thế mạnh cạnh tranh về cung cấp mô hình thiết kế và xây dựng (D&B). Dù vậy, tỷ suất lợi nhuận hiện tại vẫn thấp hơn nhiều so với đỉnh điểm là 13,8% trong năm 2009. Tuy nhiên, thị trường xây dựng đã trở nên cạnh tranh nhiều gần đây và chúng ta không thể kỳ vọng ở mức tỷ suất lợi nhuận cao như vậy nữa.

Cho năm 2016, HSC giữ nguyên dự báo doanh thu thuần đạt 19,8 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 45%), tuy nhiên, chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo LNST của cổ đông công ty mẹ lên 1.334 tỷ đồng (tăng trưởng 100%) từ 1.067 tỷ đồng (tăng trưởng 60%). Theo đó, chúng tôi dự báo EPS pha loãng là 19.158đ, định giá công ty với PE dự phóng là 9,4 lần.

Lặp lại đánh giá Nắm giữ – Giá cổ phiếu CTD đã tăng 53% so với đầu năm và tăng gấp 4 lần từ mức thấp hai năm. Công ty dẫn đầu ngành xây dựng với vị thế áp đảo trong phân khúc xây dựng dân dụng và công nghiệp nhờ khả năng thiết kế và kinh nghiệm xây dựng. CTD được lợi từ sự phục hồi của thị trường BĐS trong 2 năm qua. Tuy nhiên, KQKD 9 tháng đầu năm ấn tượng có vẻ đã phản ánh vào giá cổ phiếu. Kế hoạch mở rộng sẽ giúp công ty đa dạng nguồn doanh thu và giảm sự phụ thuộc vào ngành xây dựng là ngành tăng trưởng theo chu kỳ và có tỷ suất lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, kế hoạch mở rộng cũng bao gồm những rủi ro thực hiện tiềm ẩn và ảnh hưởng pha loãng cổ phiếu trong năm sau.

SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 21/10/16 27/10/16
Khuyến nghị PHTT Nắm giữ
Giá mục tiêu   187.1      

3. NLG

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
NLG            21.8 -0.91% 10.5 1.3

Chúng tôi giữ khuyến nghị KHẢ QUAN cho CTCP Đầu tư Nam Long (NLG) với giá mục tiêu điều chỉnh 24.800 đồng/CP. NLG vẫn duy trì được kết quả bán hàng tốt trong 10 tháng đầu năm 2016, điều này củng cố quan điểm tích cực của chúng tôi về triển vọng tăng trưởng dài hạn trong phân khúc căn hộ bình dân/trung cấp của công ty.

  • Các sản phẩm của NLG được định vị tốt trên thị trường khi các giao dịch trong phân khúc căn hộ trung cấp tăng 22,3% YoY trong 9 tháng 2016.
  • Tỷ lệ bán hàng 100% của các dự án Ehome dẫn dắt mức tăng trưởng LNST 116% trong 9 tháng 2016.
  • Kết quả bán hàng trong 10 tháng đầu năm cho thấy khả năng của NLG trong việc phát triển nhiều dự án lớn.
  • Chúng tôi tin rằng dự án Waterpoint sẽ mang lại giá trị đầu tư dài hạn.
  • Giá trái phiếu chuyển đổi vẫn cao hơn giá thị trường hiện tại.
SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 6/4/16 28/10/16 5/10/16
Khuyến nghị Nắm giữ Khả quan Khả quan
Giá mục tiêu 26.2 24.8    

CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

 

BVSC

VN-Index: Cây nến trắng xuất hiện ở ngay sát trên đường SMA20 giúp VNINDEX tiếp tục duy trì được xu hướng tăng điểm ngắn hạn. Tuy nhiên, chỉ số cần tiếp tục diễn biến tích cực trong những phiên kế tiếp để có thể củng cố thêm mức độ bền vững cho đà hồi phục. Thanh khoản giảm nhẹ và duy trì ở dưới mức trung bình 10 phiên gần nhất cho thấy nhà đầu tư vẫn còn giữ tâm lý thận trọng và có phần lo ngại về khả năng chỉ số vẫn có thể phá vỡ ngưỡng hỗ trợ quanh 670 điểm. Về mặt xu hướng, việc dải BB tiếp tục thắt hẹp giúp chỉ số vẫn duy trì được xu hướng dao động đi ngang theo mẫu hình tam giác hướng lên được giới hạn trong vùng 677-691 điểm. Tuy nhiên, với những biến động không mấy tích cực trong những phiên gần đây thì rủi ro đường giá phá vỡ mẫu hình đi ngang này trong những phiên tới đang tăng cao. Trong kịch bản này, đường giá có thể sẽ hướng về ngưỡng 670 điểm. Vùng hỗ trợ quanh 670 điểm là vùng hội tụ của đường SMA50 và đường xu hướng tăng kéo dài từ 01/2016 đến nay. Đồng thời, các chỉ báo dao động cũng đang dần đi vào trạng thái quá bán. Điều này được kỳ vọng sẽ giúp chỉ số hồi phục tăng điểm trở lại trong những phiên kế tiếp. Tuy nhiên, trong kịch bản tiêu cực, nếu đường giá xuyên thủng ngưỡng 670 sẽ khiến chỉ số hình thành xung lực giảm mạnh. Nếu điều này xảy ra thì kịch bản chỉ số hình thành mẫu hình 2 đỉnh và rơi vào xu hướng giảm ngắn hạn cần được tính đến. Trên khung thời gian intraday, những cây nến trắng được hình thành liên tiếp về cuối phiên giúp đường giá vượt lên trên đường SMA20, qua đó xác lập một nhịp hồi phục ngắn trong một vài phiên kế tiếp. Mặc dù vậy, dải BB đang có dấu hiệu thắt hẹp khiến chúng tôi cho rằng đường giá sẽ vấp phải áp lực điều chỉnh khi tiếp cận dải BB trên. Xu hướng dao động đi ngang tích lũy quanh đường SMA20 có thể sẽ diễn ra sau đó. Vùng kháng cự gần của VNINDEX nằm tại 685-690 điểm và 695-700 điểm. Vùng hỗ trợ gần của VNINDEX nằm tại 670- 675 điểm và 655-660 điểm.

VCSC

Quan điểm kỹ thuật: Các tín hiệu kỹ thuật vẫn chưa có được sự cải thiện. Các chỉ số hai sàn vẫn đang duy trì tín hiệu tiêu cực cho xu hướng ngắn hạn, với ngưỡng cản cho VN-Index ở vùng 677-680 điểm, Dự báo, chỉ số sàn HSX có thể sẽ tiếp tục đà hồi phục trong phiên giao dịch ngày mai để kiểm định vùng kháng cự ngắn hạn này. Trong khi đó, VN-Index vẫn duy trì được tín hiệu tăng trung hạn với hỗ trợ tại 672 điểm. Với lực cung yếu như hiện tại thì chưa có khả năng ngưỡng hỗ trợ này sẽ bị phá vỡ.

VDSC

Hai chỉ số lấy lại sắc xanh sau nhiều phiên giảm điểm liên tiếp, tuy nhiên dòng tiền tham gia vẫn còn khá yếu và chưa thể cải thiện trạng thái xu hướng hiện tại, do vậy nhà đầu tư vẫn nên duy trì tỷ trọng cổ phiếu ở mức an toàn và chờ theo dõi thêm diễn biến ở các phiên kế tiếp.

VN-Index: Các chỉ báo kỹ thuật không có nhiều thay đổi, MACD vẫn dao động dưới đường tín hiệu và RSI dưới mức 50 cho thấy trạng thái thị trường hiện tại đang khá yếu và ADX ở mức rất thấp thể hiện xu hướng chưa thực sự rõ ràng. Mức hỗ trợ 670 điểm vẫn đang phát huy tốt vai trò của nó, tuy nhiên việc đường giá dao động dưới các đường MA20 và EMA 26 ngày là tín hiệu không mấy tích cực, do vậy ở những phiên hồi phục kế tiếp đường giá cần vượt lên các đường MA này thì rủi ro thị trường mới giảm bớt.

HNX-Index: Nến xanh với mức đóng cửa cao nhất kèm theo khối lượng rất thấp sau nhiều nến giảm trước đó cho thấy khả năng đây chỉ là sự hồi phục kỹ thuật của đường giá. Các chỉ báo kỹ thuật có sự hồi phục nhẹ nhưng vẫn chưa đủ để thay đổi xu hướng giảm và cải thiện về xung lực tăng của chỉ số. Mức 82 điểm tương ứng với trendline tăng giá và MA200 ngày vẫn đang hỗ trợ cho HNX và vùng kháng cự cho đợt hồi phục này là 84 điểm, đây cũng là điểm hội tụ của các đường MA 20 và EMA26 ngày.

Theo dõi khuyến nghị

PTKT
KHUYẾN NGHỊ MUA
TCKN Ngày KN Giá hiện tại Giá KN Giá  mục tiêu Giá cutloss
PPC HSC 21/9/16 15 14.4 18.0 13.1
REE HSC 10/10/2016 21.0 20.5-21.5 26.0 19.5
HSG HSC 20/9/16 38.7 40.8 – 41.1 50.0 38.0
HDG HSC 27/10/16 23.5 23-23.5 30.0 22.0
PVS BSC 13/10/16 19.9 20.8 24.0 20.0
VNR BSC 27/9/16 19.9 21.5-21.8 23.3 20.5
CSV BSC 28/9/16 28.4 31.3-31.8 35.2 28.7
CAV BSC 25/10/16 97.8 99.5 114 90
KHUYẾN NGHỊ NẮM GIỮ
TCKN Ngày KN Giá hiện tại Giá KN Giá  mục tiêu Giá cutloss
PTCB
Giá hiện tại Gía mục tiêu
SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
AAA 29.6
ACB 19.2 22.3 22.1 Khả quan
BCC 15.1 18.4
BCI 22.0 28.4 Nắm giữ 28.4
BFC 33.5 43 40
BHS 17.3 28.6
BID 16.7 17 16.4 Kém khả quan
BMI 26.5 31.8
BMP 200.8 Nắm giữ 159.8
BVH 67.0 73.3 Kém khả quan
CAV 97.8 116
CEO 10.8
CII 28.8 27.2 32.1 Khả quan
CLC 59.7 81.7
CNG 39.9 42.5 52.5
CNG 39.9 43
CSM 20.9 21.1 Nắm giữ 27.5
CSV 28.4 24.2
CTD 179.4 187.1 Nắm giữ
CTG 16.6 18.1 18.7 Nắm giữ
CTI 28.2 36 31
CVT 42.0 Neutral
DAG 14.9 18.0
DBC 38.2 48.0
DGC 44.6 55.4
DGW 21.8 24.0
DHA 30.0 40.3 40.5
DHC 39.5 48.8 46.5
DHG 98.2 117.7 104.9 Nắm giữ
DIG 7.4 Nắm giữ
DNP 27.9 Khả quan
DPM 27.8 27.7 30.2 Nắm giữ 32.5
DPR 36.2 37.6 42.45
DQC 74.9 76 81.6 Nắm giữ
DRC 36.6 40.5 31.7 Khả quan 39.3 44
DVP 71.9 75.4
DXG 11.4 19.9 23.2 Khả quan
EIB 10.3 10.9 9.6 Kém khả quan
EVE 24.2 30.8
FCN 19.7 Khả quan Neutral
FPT 43.2 55 60.5 Mua 58 54
GAS 67.8 57.5 50.2 Nắm giữ
GDT 54.5 67
GEX 31.4
GMD 27.2 28.3 31.9 Nắm giữ Trung lập 30.5
GMX 25.9 27.1
GTN 18.1 24.5 Khả quan
HAG 5.2 Kém khả quan
HAH 38.2 48
HBC 29.7 Nắm giữ
HHG 7.0 12
HHS 5.5 Nắm giữ
HPG 39.6 47.5 58.9 Mua
HSG 38.7 49.1 Khả quan 48.5
HT1 20.8 32.3
HVG 10.9 10.9
IMP 61.4 Khả quan 49
INN 60.0 61.7
ITC 11.4 15.4
ITD 21.6 25.5
KBC 17.6 19.7 Khả quan
KDC 36.2 Khả quan Outperform
KDH 21.1 26.1 24.8 Nắm giữ
KSB 69.0 58.5
LIX 58.2 Kém khả quan
MAC 10.5 14.5
MBB 14.3 17.5 15.7 Khả quan 16.6
MSN 65.5 81.5 94.0 Khả quan
MWG 146.5 180.0 206.0 Khả quan 93.0 182.0
NCT 79.0 107 140.0
NKG 36.5 38.9
NLG 21.8 26.2 24.8 Khả quan
NT2 35.0 38 Nắm giữ 37 36
NTL 9.5 Nắm giữ
PAC 36.2 32.7 Nắm giữ 33.2 33.1
PGC 12.8 12
PGD 46.0 45
PGS 17.6 16.7 20.6 21.6
PHP 17.9 26.7
PHR 21.3 19.3 25.7
PLC 28.9 35 31.8 32.3
PNJ 69.0 89.0 Nắm giữ 101 97.4
PPC 15.0 22.8 12.7 19.1
PTB 119.7 147.0 130.0 83.9
PTI 32.0 28.5
PVD 25.8 27.1 24.2 Khả quan
PVI 24.9 Nắm giữ
PVS 19.9 18.8 22 Khả quan 18 22.7
PVT 13.3 17.5 16.2
QTC 28.9 38.8
REE 21.0 27.1 26.8
SBT 27.0 Kém khả quan
SCR 9.5 13
SD2 7.3 16.0
SHP 20.8 25.5 21.7
SJD 29.3 36.6
SKG 83.2 99.5 112.7 103
SSI 20.8 22.3 Khả quan
STB 9.0 8.3 8.1 Bán
STK 18.2 26.4 24.6 Kém khả quan
SVC 40.8 41.8
SVI 46.4 57
TCM 17.7 19.1 30.5 33.1
TDH 10.7 16.3
TLG 105.0 76.8 83
TMT 14.6 Kém khả quan
TRA 118.0 Nắm giữ 106
TRC 25.4 25.1
TTC 18.8 16.8
TTF 8.1 Kém khả quan
VCB 36.3 40.3 39.5 Khả quan
VCS 132.4 Neutral
VFG 80.0 Khả quan Khả quan
VHC 55.0 59.5 Nắm giữ 46.6
VIC 42.8 55.7 52.5 Khả quan
VIT 29.0
VNE 6.1 15.1 12.2
VNM 142.5 147.1 159 Khả quan
VSC 60.2 71.4 Nắm giữ 76.0 75.5
VSH 15.4 Khả quan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s