Cập nhật GMD, PGD, DGC, ACB, NBC

1. GMD: Triển vọng dài hạn tích cực

Kết quả kinh doanh quý 3/2016

Kết quả kinh doanh trong quý 3/2016 của GMD sát với kết quả ước tính của chúng tôi. Doanh thu và lợi nhuận gộp giảm so với cùng kỳ năm 2015 do đóng góp từ cảng giảm trong khi mảng logistics tiếp tục cải thiện.

Cụ thể, doanh thu từ cảng giảm 5,7% so với năm ngoái, đạt 418 tỷ đồng và lợi nhuận gộp giảm 18% so với năm ngoái. Lợi nhuận gộp từ cảng theo đó giảm từ mức 46,8% trong quý 3/2015 xuống còn 40,4% trong quý 3/2016. Nguyên nhân sụt giảm trên do xu hướng giảm ở khu vực cảng Hải Phòng.

  • Container lạnh: khối lượng giảm 46% so với năm ngoái. Container lạnh đóng góp phần lớn thu nhập cho GMD trong quý 2 và quý 3/2015, nhờ biên lợi nhuận cao.
  • Phí xếp dở hàng hóa giảm: với sự gia tăng nguồn cung và nhu cầu ảm đạm, phí xếp dở hàng hóa trong khu vực đã giảm 2-3%, theo thông tin từ một số quản lý cảng. Nguồn cung tăng từ cảng VIP Green, khối lượng hàng hóa cần xử lý tăng thêm 650.000 TEU, tăng 14% trên tổng công suất xử lý của Hải Phòng. Về phía cầu, nhu cầu ước tính chỉ tăng 5% so với năm ngoái trong 9T2016, với tăng trưởng từ hoạt động kinh doanh giảm do lượng container đông lanh giảm rõ rệt.

Nhìn chung, kết quả kinh doanh tại phân khúc cảng khá tốt, nếu không tính đến cơ sở so sánh cao bất thường của năm 2015. Chúng tôi ước tính rằng container lạnh đóng góp khoảng 100 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế đồng trong năm 2015. Trong 9T2016, lợi nhuận từ cảng bằng 91% con số lợi nhuận trong 9T2015. Phần lớn các hãng tàu đều gặp khó khăn để hòa vốn trong năm 2016, tạo nên áp lực để duy trì khối lượng hàng hóa cũng như phí dịch vụ. Do đó, mức giảm lợi nhuận từ mảng cảng theo chúng tôi là hợp lý.

Mặt khác, phân khúc logistics vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ trong quý 3/2016, (+ 8% trong quý 1/2016 và + 5,3% trong quý 2/2016). Doanh thu từ logistics đạt 516 tỷ đồng, tăng 5% so với năm ngoái. Biên lợi nhuận gộp cũng được cải thiện từ 13,7% trong quý 3/2015 lên 15,8% trong Q3/2016 (Q1/2016: 13,8% và Q2/2016: 14,0%). Chúng tôi ngạc nhiên về sự cải thiện này, do 2 dự án lớn mới vừa bắt đầu hoạt động, nên biên lợi nhuận sẽ giảm (Nam Hải Logistics và Hải Dương Mega DC). Chúng tôi cho rằng tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận mảng logistics được cải thiện không đến từ những dự án mới, mà là từ hoạt động kinh doanh hiện tại ở miền Nam, với các dịch vụ logistics tích hợp hơn với biên lợi nhuận cao hơn cho khách hàng.

Từ năm 2017, khi hiệu năng của các dự án mới gia tăng, biên lợi nhuận ở mảng này sẽ được cải thiện hơn nữa.

Lợi nhuận trước thuế của GMD đạt 124 tỷ đồng, -6.5% so với năm ngoái, khá sát với dự báo của chúng tôi là 120 tỷ đồng. Lợi nhuận thuộc về cổ đông thiểu số đạt 96 tỷ đồng, -7,1% so với năm ngoái trong quý 3/2016.

Ước tính năm 2016 và 2017

Năm 2016, chúng tôi duy trì ước tính doanh thu đạt 3.787 tỷ đồng, tăng 5,5% so với năm ngoái, trong khi lợi nhuận trước thuế có thể đạt 513 tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm ngoái. Năm 2016, lợi nhuận sau thuế ước đạt 482 tỷ đồng, tăng 4,9% so với năm ngoái, tương đương EPS pha loãng đạt 1.783 đồng (đã xét đến trái phiếu chuyển đổi).

Trong năm 2017, mảng cảng ước tính sẽ sụt giảm 8% lợi nhuận gộp sau khi chúng tôi đã cân nhắc đến áp lực phải giảm phí dịch vụ gia tăng từ các hãng tàu và công suất sẽ không gia tăng cho đến năm 2018. Chúng tôi ước tính tổng hàng hóa ra vào cảng năm 2017 đạt 1,25 triệu TEU, + 0,8% so với năm ngoái.

Mảng logistics sẽ giúp bù đắp phần lợi nhuận sụt giảm của mảng cảng trong năm 2017, với biên lợi nhuận gộp giả định sẽ tăng lên 16% nhờ tỷ lệ sử dụng phần công suất tăng thêm cao hơn và dịch vụ tích hợp gia tăng. Lợi nhuận gộp mảng logistics có thể tăng 11% so với năm ngoái. Mekong Logistics và Nam Hải Logistics sẽ là động lực tăng trưởng chính của phân khúc logistics trong năm 2017.

Năm 2017, doanh thu ước đạt 3.974 tỷ đồng, + 4,9% so với năm ngoái, trong khi lợi nhuận trước thuế tăng lên 630 tỷ đồng, + 22,6% so với năm ngoái. Chúng tôi giả định VIG sẽ chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi của họ trong năm 2017, giảm chi phí lãi vay khoảng 40 tỷ đồng. Tổng số cổ phiếu có thể tăng lên dẫn đến EPS pha loãng 2.183 đồng.

GMD hiện đang giao dịch PE pha loãng 2017 12x và PB 2017 là1,13x. Chúng tôi nhắc lại khuyến nghị NẮM GIỮ, với mức giá mục tiêu 1 năm là 28.300 đồng, kết hợp P/B (pha loãng) là 10x và P/E (pha loãng) là 1,5x.

Trong trường hợp trái chủ không chuyển đổi trong năm 2017 như giả định, PE 2017 sẽ là 9,19x (đã tính đến các khoản chi phí lãi từ thanh toán của trái phiếu cao hơn), và PB 2017 sẽ là 0,89x.

Chúng tôi chưa nhận được đầy đủ thông tin về việc đầu tư Cảng Nam Đình Vũ mới, vì vậy chúng tôi sẽ điều chỉnh dự phóng của chúng tôi cho năm 2017 và bao gồm ước tính cho năm 2018 trong bản cập nhật 4/2016 của chúng tôi. Tuy nhiên, việc xây dựng sẽ bắt đầu từ tháng 12 năm 2017, do đó có thể phát sinh khoảng vay ngân hàng 1 nghìn tỷ đồng. Chi phí lãi vay sẽ được vốn hóa, vì vậy kết quả kinh doanh sẽ không bị ảnh hưởng.

Những phát triển của GMD gần đây cho thấy công ty đang tập trung đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh cốt lõi, thay vì mở rộng kinh doanh ngoài ngành như trước đây. Chúng tôi hy vọng cảng biển Nam Đình Vũ mới tại Hải Phòng sẽ tiếp tục thành công như câu chuyện của Nam Hải Đình Vũ, mang lại đóng góp đáng kể vào lợi nhuận cho công ty từ năm 2018 trở đi, giúp triển vọng dài hạn của công ty tích cực hơn.

2. PGD

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
PGD            41.6 -6.09% 14.3 2.7

PGD công bố LNST 9 tháng khả quan, tăng 12,27% so với cùng kỳ – PGD công bố doanh thu 9 tháng đầu năm đạt 3.241 tỷ đồng (giảm 13,5% so với cùng kỳ) và LNST đạt 214,1 tỷ đồng (tăng 12,27% so với cùng kỳ). Doanh thu Q3 đạt 1.213 tỷ đồng, tăng 1,1% so với cùng kỳ trong khi LNST chỉ đạt 18,77 tỷ đồng (tương đương Q3/2015).

Trong 9 tháng đầu năm, PGD tiêu thụ được khoảng 24,2 triệu MMBTU khí tự nhiên (tăng 27,9% so với cùng kỳ) với giá bình quân là khoảng 5,92 USD/MMBTU (giảm 34,66% so với cùng kỳ). Sản lượng tiêu thụ tăng nhờ công ty bắt đầu phân phối khí tự nhiên cho các KCN tại Tiền Hải (Thái Bình) kể từ cuối 2015 nhờ có nguồn khí mới từ bể Sông Hồng.

Trong 9 tháng đầu năm, lợi nhuận gộp đạt 670 tỷ đồng (tăng 22,35% so với cùng kỳ). Theo đó tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 20,67% (cùng kỳ là 14,61%). Tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện nhờ giá đầu vào giảm nhiều hơn giá bán bình quân. Trong 9 tháng đầu năm 2016, giá đầu vào bình quân khí tự nhiên của PGD là khoảng 4,43 USD/MMBTU, giảm 46,9% so với cùng kỳ trong khi giá bán bình quân giảm 34,66% so với cùng kỳ, vào khoảng 5,92 USD/MMBTU. Giá đầu vào của PGD được tính dựa trên giá dầu MFA bình quân theo tháng tại thị trường Singapore cộng với phí vận chuyển & phân phối trong khi giá đầu ra dựa trên giá LPG, là nhiên liệu thay thế gần nhất với khí tự nhiên. Trong 9 tháng đầu năm, giá dầu MFO giảm khoảng 32,5% xuống còn khoảng 220 USD trong khi giá LPG giảm 24,5% xuống còn khoảng 330 USD/tấn. Và đây là lý do giá đầu vào của PGD giảm nhiều hơn giá bán bình quân, giúp cải thiện tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty.

Trong mô hình lợi nhuận của mình, chúng tôi dự báo PGD sẽ tạo doanh thu 4,69 nghìn tỷ đồng (giảm 5,0% so với năm 2015) và LNST của cổ đông công ty mẹ là 251,4 tỷ đồng (tăng trưởng 5,5%). Theo đó, chúng tôi dự báo EPS năm 2016 là 2.653đ/cp, dự phóng P/E 2016 là 15,7 lần, là mức định giá đắt theo quan điểm của chúng tôi.

Cho năm tới, chúng tôi dự báo PGD sẽ tạo doanh thu 5,26 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 12,2%) và LNST của cổ đông công ty mẹ là 266,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 6,2%). Theo đó, chúng tôi dự báo EPS 2017 là 3.012đ/cp, dự phóng P/E 2017 là 13,8 lần, vẫn là mức định giá khá đắt theo quan điểm của chúng tôi.

Lặp lại đánh giá Nắm giữ. Định giá cổ phiếu không còn rẻ. PGD đơn thuần là công ty phân phối khí với lợi nhuận đến từ chênh lệch giá đầu vào và giá đầu ra. Tuy nhiên, PGD không thể kiểm soát giá đầu vào cũng như giá đầu ra do giá đầu vào được tính theo giá MFO trong khi đó giá đầu ra lấy giá LPG làm tiêu chuẩn. Ở thời điểm này, PGD đang hưởng lợi khi giá LPG ít biến động theo giá dầu thô hơn so với giá FO. Tuy vậy, ở những thời điểm khác, tỷ suất lợi nhuận có thể bị ảnh hưởng bởi chính nguyên nhân này. Do đó, chúng tôi giữ quan điểm thận trọng đối với cổ phiếu này về dài hạn.

  SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 4/7/16   14/11/16      
Khuyến nghị Nắm giữ   Nắm giữ      
Giá mục tiêu 45          

3. ACB

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
ACB            19.0 0.00% 14.5 1.2

ACB (Khả quan) đã công bố KQKD hợp nhất 9 tháng với LNTT tăng 14,12% so với cùng kỳ đạt 1.244 tỷ đồng; hoàn thành 82,93% kế hoạch cả năm của ACB và bằng 77,94% dự báo cả năm của HSC là 1.596 tỷ đồng. KQKD tích cực này đạt được nhờ cho vay khách hàng tăng 19,23% so với đầu năm và huy động khách hàng tăng 15,13% so với đầu năm. Tỷ lệ NIM giảm nhẹ 0,03% xuống còn 3,33%.

Cho vay khách hàng tăng 19,23% so với đầu năm – lên 159,80 nghìn tỷ đồng do ACB tìm cách bù lại những năm tăng trưởng thấp hơn bình quân. Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 20% so với đầu năm lên 75,13 nghìn tỷ đồng trong khi cho vay trung dài hạn tăng 18,55% so với đầu năm lên 84,66 nghìn tỷ đồng. Chúng tôi ước tính tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn là khoảng 30% tại thời điểm cuối Q3/2016; thấp hơn nhiều so với mức tối đa 50% theo quy định của NHNN. Theo đó ACB vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng cho vay khách hàng cá nhân cũng như các khoản cho vay trung dài hạn khác. Cho vay khách hàng bằng tiền đồng tăng 20,50% so với đầu năm lên 150,78 nghìn tỷ đồng trong khi cho vay khách hàng bằng ngoại tệ chỉ tăng 1,37% so với đầu năm lên 9,05 nghìn tỷ đồng.

Vốn huy động khách hàng tăng 15,13% so với đầu năm lên 201,38 nghìn tỷ đồng – Trong đó, tiền gửi có kỳ hạn tăng 17,37% so với đầu năm lên 171,77 nghìn tỷ đồng; chiếm 85,29% tổng vốn huy động khách hàng. Trong khi đó tiền gửi không kỳ hạn tăng 15,78% so với đầu năm lên 29,61 nghìn tỷ đồng; chiếm 14,71% tổng vốn huy động khách hàng. Vốn huy động tiền đồng tăng 18,33% so với đầu năm lên 191,12 nghìn tỷ đồng (bằng 94,90% tổng vốn huy động) trong khi vốn huy động bằng USD giảm 23,46% so với đầu năm xuống còn 10,26 nghìn tỷ đồng (bằng 5,10% tổng vốn huy động).

Hệ số LDR thuần tăng nhẹ lên 79,4% – từ 76,6% năm 2015. Do thanh khoản toàn hệ thống ngân hàng dồi dào và lợi suất trái phiếu chính phủ thấp; nên việc tăng cho vay khách hàng (từ đó tăng tỷ lệ LDR thuần) tiếp tục là phương án hợp lý duy nhất cho các ngân hàng muốn tối đa hóa lợi nhuận trong năm nay.

Tỷ lệ NIM giảm nhẹ 0,03% xuống còn 3,33% – do lợi suất gộp giảm 0,24% xuống còn 8,01% trong khi chi phí huy động chỉ giảm 0,07% xuống còn 4,70%.

Chi phí hoạt động tăng 6,05% so với cùng kỳ – là 3.489 tỷ đồng. Chi phí hoạt động tăng chủ yếu do chi phí lương thưởng cho nhân viên tăng 14,08% so với cùng kỳ, lên 1.829 tỷ đồng do số lượng nhân viên tăng 1,38% so với cùng kỳ lên 9.818 người và do chi phí liên quan đến tài sản cũng tăng 22,70% so với cùng kỳ, là 716 tỷ đồng.

Tỷ lệ nợ xấu sau xử lý được kiểm soát tốt, chỉ là 1,13% – giảm từ mức 1,31% vào đầu năm. Dư nợ xấu sau xử lý là 1.793 tỷ đồng, tương đương chỉ có 22,92 tỷ đồng nợ xấu mới phát sinh trong 9 tháng đầu năm. Trong đó, tỷ trọng nợ Nhóm 3 chỉ là 0,12% dư nợ (tăng 9,23% so với đầu năm, là 190,61 tỷ đồng), tỷ trọng nợ Nhóm 4 là 0,19% dư nợ (giảm 43,23% so với đầu năm, là 300,99 tỷ đồng) trong khi đó nợ Nhóm 5 chiếm 0,82% tổng dư nợ (tăng 22,15% so với đầu năm, là 1.302 tỷ đồng). Hệ số LLR tăng lên 100% từ 87% vào cuối năm 2015. Lưu ý ở đây là, tổng giá trị trái phiếu VAMC mà Ngân hàng nắm giữ đã giảm 5,20% so với đầu năm từ 1.882 tỷ đồng còn 1.784 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm. Và giá trị thuần trái phiếu VAMC sau trích lập dự phòng tích lũy chỉ là 1.258 tỷ đồng (chiếm 0,79% tổng dư nợ).

Tổng chi phí dự phòng tăng mạnh 29,68% so với cùng kỳ – lên 1.379 tỷ đồng. Trong đó, 304 tỷ đồng là dự phòng chung và dự phòng cụ thể cho vay khách hàng (giảm 12,94% so với cùng kỳ), tiếp đó 283,5 tỷ đồng là dự phòng trái phiếu VAMC (giảm 6,28% so với cùng kỳ) và 817,07 tỷ đồng là dự phòng liên quan đến các công ty “G6” (tăng 233,61% so với cùng kỳ).

Cho năm 2016, HSC điều chỉnh giảm dự báo LNTT từ 1.603 tỷ đồng xuống 1.596 tỷ đồng. Cho năm 2017, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 31,56% đạt 2.095 tỷ đồng.

Lăp lại đánh giá Khả quan. Định giá cổ phiếu hợp lý đối vối ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam như ACB. Trong 3 năm qua, Ngân hàng nhìn chung đã hoàn thành kế hoạch tái cơ cấu đầy gian khổ cho các tài sản có vấn đề. Theo đó, chi phí dự phòng sẽ bắt đầu giảm sau năm tới. Với tiềm năng có thể thu hồi giá trị các tài sản đảm bảo. Hệ số LDR thấp và khả năng đẩy mạnh huy động với thế mạnh về cho vay bán lẻ và DNVVV giúp Ngân hàng đảm bảo tăng trưởng thu nhập mạnh trong những năm tới. Đồng thời, với chu kỳ tăng chi phí dự phòng sẽ chấm dứt vào năm tới, chúng tôi nhận thấy tiềm năng tăng trưởng LNTT từ năm 2018 là rất lớn.

SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 29/9/16 11/11/16 14/11/16      
Khuyến nghị Mua Khả quan Khả quan      
Giá mục tiêu 22.3 22.1        

 

4. DGC

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
DGC            43.1 -1.37% 8.5 2.2

DGC ghi nhận 636.9 tỷ đồng doanh thu (+13.4% yoy) và 84.8 tỷ đồng LNTT (-46% yoy). Công ty chịu ảnh hưởng (1) việc thay đổi chính sách thuế giá trị gia tăng cho mặt hàng trọng yếu là phốt pho vàng, làm tăng chi phí thuế liên quan lên xấp xỉ 20 tỷ đồng trong quý 3, và (2) hoạt động kinh doanh của công ty liên kết LFC gặp khó khăn.

Các kế hoạch dài hạn được đẩy mạnh, bao gồm (1) việc hợp nhất tất cả các công ty (2) Dự án nhiệt điện vào nửa đầu 2017 (3) hoàn thành những thủ tục giấy tờ liên quan đến mỏ apatit và (4) dự án bất động sản vẫn duy trì kế hoạch khởi công năm 2017. Các dự án dài hạn có tính khả thi cao và sẽ cải thiện đáng kể kết quả kinh doanh cũng như tình hình quản trị doanh nghiệp của DGC trong dài hạn.

BSC điều chỉnh ước tính LNST 2016 về 343 tỷ đồng (-3% yoy), sau khi điều chỉnh các yếu tố về thuế và kết quả kinh doanh không như kỳ vọng của LFC. Mức lợi nhuận ước tính tương ứng với EPS 2016 đạt 6,197 VND/cp.

Chúng tôi điều chỉnh giá khuyến nghị Trung và dài hạn của DGC là 50,500 VND/cp (upside 16%). Sự điều chỉnh giá xuống phản ánh mức giảm do ảnh hưởng của thuế, tuy nhiên chúng tôi duy trì duy trì nhận định về các thế mạnh của doanh nghiệp, cũng như tiềm năng tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp. Chúng tôi lưu ý việc hợp nhất doanh nghiệp sẽ dẫn đến thay đổi lớn trong cơ cấu vốn và kết quả kinh doanh hợp nhất của DGC từ 2017.

  SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo           14/11/16
Khuyến nghị           Mua
Giá mục tiêu           50.5

5. NBC

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
NBC             8.6 28.36% 6.9 0.8

Trong 9T2016, doanh thu của NBC đạt 883.8 tỷ đồng ( – 12% yoy), LNST đạt 19.6 tỷ đ (+7.7% yoy). Biên LNG đạt 15.4%, cao hơn mức 13.53% trong 9T2015 do chi phí khâu hao trong 9T2016 ở mức thấp 40.6 tỷ đ (-68.3% yoy) khi một số máy móc hết thời gian khấu hao và công ty thanh lý một phần máy móc thiết bị khai thác lộ thiên. Dự kiến cả năm 2016, sản lượng tiêu thụ than đạt 900,000 tấn than nguyên khai, ước tính LNTT cả năm 2016 đạt 33.6 tỷ đ, trong đó 65% đến từ than, còn lại từ thanh lý tài sản.

Các mỏ than hiện vẫn thuộc quyền sở hữu nhà nước, do Vinacomin đại diện sở hữu và phân bổ cho từng công ty thành viên khai thác, sau đó Tập đoàn sẽ mua lại và phân phối ra thị trường thông qua công ty Kho vận. Đầu năm, Vinacomin sẽ giao chỉ tiêu về sản lượng, giá mua, chỉ tiêu kĩ thuật cho từng công ty khai thác thành viên. Các công ty nếu thực hiện đúng theo kế hoạch sẽ nhận một mức biên lợi nhuận cố định (thường 3% doanh thu), có thể hiểu như thực hiện khai thác khoán cho Tập đoàn.

Như vậy, với cơ chế này:

  • Biến động về giá Than trên thị trường trong nước và quốc tế không có ảnh hưởng trực tiếp ngay tại thời điểm đó đến các DN khai thác trong tập đoàn. Thay vào đó, Vinacomin sẽ chịu tác động trực tiếp (cả tích cực và tiêu cực), và giá thu mua từ các DN khai thác có thể sẽ được điều chỉnh trong năm tiếp theo;
  • Thuế phí gia tăng với ngành than (Từ 1/7, thuế tài nguyên tăng từ 7% lên 10% với than hầm lò, 9% lên 12% với than lộ thiên; Từ 2014, hoạt động khai thác than phải chịu thêm chi phí cấp quyền khai thác 2%) không ảnh hưởng đến DN khai thác. Các chi phí này do Vinacomin chi trả.
  • Lợi nhuận của DN khai thác sẽ thay đổi theo sản lượng thực tế bán và giá bán quy định hàng năm, cũng như việc thực hiện các chỉ tiêu kĩ thuật trong quá trình khai thác than.

Trữ lượng than lộ thiên còn lại của NBC thấp, hệ số bóc tăng gần gấp đôi nhưng vẫn thấp nhất trong các doanh nghiệp khai thác lộ thiên: Hiện tại, công suất khai thác lộ thiên của NBC khoảng 1.2 triệu tấn/năm. Trữ lượng than lộ thiên còn lại khoảng 1.6 triệu tấn, dự kiến sau 2016, công ty sẽ khai thác 700,000 tấn/năm đến hết 2018. Vì là giai đoạn cuối của mỏ lộ thiên, hệ số bóc của NBC tăng lên mức 8x so với 4.7x trước kia. Tuy nhiên đây vẫn là hệ số bóc thấp nhất trong các doanh nghiệp khai thác lộ thiên (bình quân 12x), giúp giá thành khai thác của công ty thuộc nhóm thấp nhất tập đoàn. Đây có thể là một lợi thế khi tập đoàn sẽ ưu tiên giao sản lượng nhiều hơn cho công ty có chi phí khai thác thấp. Than hầm lò sẽ bắt đầu được khai thác từ 2017: Dự án khai thác than hầm lò được công ty bắt đầu lên kế hoạch và thực hiện từ 2012. Trữ lượng than hầm lò ước tính đạt 28 triệu tấn, tổng đầu tư dự án là 5300 tỷ đồng, với công suất khai thác sau khi hoàn thành sẽ là 2 triệu tấn/năm. Tính đến nay, công ty đã đầu tư khoảng 800 tỷ đồng cho dự án, và dự kiến sẽ khai thác 170,000 tấn than đầu tiên trong năm 2017. NBC sẽ tiếp tục đầu tư và tăng công suất lên mức 2 triệu tấn/năm vào các năm sau như kế hoạch.

  • Khai thác than hầm lò có nhiều đặc điểm khác biệt so với khai thác lộ thiên như (1) Chi phí khấu hao tăng mạnh do tổng mức đầu tư vào dự án hầm lò rất lớn so với khai thác lộ thiên; (2) Thời gian đầu tư dài (5-10 năm) cho một dự án; (3) Chi phí nhân công lớn do công việc yêu cầu về lao động đặc thù (chẳng hạn dưới 40 tuổi, nam, sức khỏe tốt); (4) Ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết hơn, chẳng hạn không nhất thiết dừng/hạn chế khai thác trong mùa mưa như với khai thác lộ thiên.
  • Với những đặc điểm này, chi phí khai thác than hầm lò nói chung và chi phí của NBC trong thời gian tới nói riêng sẽ cao hơn chi phí khai thác lộ thiên. Điều này không hẳn là một bất lợi cho doanh nghiệp khai thác do giá bán cho Tổng công ty sẽ tăng tương ứng để mức biên lợi nhuận của doanh nghiệp được đảm bảo. Từ đó, lợi nhuận thu được cho công ty vẫn có thể tăng trưởng. Bên cạnh đó, tuyển và đào tạo nhân công cho khai thác hầm lò sẽ là một bài toán cho NBC trong thời gian tới khi khu vực mà công ty khai thác không có truyền thống khai thác hầm lò.

 

CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

 

BVSC

VN-Index: VNINDEX hình thành cây nến đỏ đặc nhỏ với giá đóng cửa nằm dưới nhóm MA ngắn hạn và đường SMA 50. Thanh khoản có sự cải thiện đáng kể khi vượt lên trên mức trung bình 10 phiên gần nhất, còn độ rộng thị trường nghiêng về phía các mã giảm điểm. Diễn biến này đang phản ánh sự thận trọng, và có phần nghi ngại của nhà đầu tư về xu hướng tăng điểm của thị trường trong ngắn hạn khi mà nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn đang có sự chuyển biến theo chiều hướng không mấy tích cực. Về mặt xu hướng, dải BB vẫn duy trì trạng thái đi ngang trong biên độ hẹp, còn nhóm MA ngắn hạn và đường SMA50 cũng đang hội tụ. Điều này thể hiện một sự tích lũy của chỉ số trong ngắn hạn. Do đó, chúng tôi cho rằng đường giá sẽ có dao động giằng co với những nhịp tăng giảm đan xen quanh đường SMA20 trong ngắn hạn. Nếu đường giá bứt phá thành công qua ngưỡng 680 điểm thì dải BB trên (quanh 690 điểm) sẽ là điểm đến kế tiếp. Về mặt chỉ báo kỹ thuật, đường giá đã cắt lên trên chỉ báo PSAR trong bối cảnh chỉ báo MACD đang hướng về ngưỡng 0 sau khi cắt lên trên đường tín hiệu. Điều này được xem là yếu tố hỗ trợ cho diễn biến của chỉ số trong ngắn hạn. Tuy nhiên, việc nhóm chỉ báo dao động đã lần lượt đi vào trạng thái quá mua có thể tạo ra lực cản đáng kể đối với đà tăng của đường giá trong một vài phiên kế tiếp. Trên khung thời gian intraday, vấp phải áp lực chốt lời từ đường SMA200 khiến chỉ số quay đầu giảm điểm ngay từ đầu phiên. Đường giá đã lui về vùng hỗ trợ 670-675 điểm. Việc các chỉ báo dao động cũng đã đi vào vùng quá bán khiến chúng tôi kỳ vọng vào khả năng đường giá sẽ cho phản ứng hồi phục tăng điểm trở lại từ vùng điểm này trong phiên kế tiếp. Dù vậy, chỉ số vẫn cần phải vượt lên trên đường SMA200 nếu muốn mở ra một nhịp tăng điểm mới. Vùng kháng cự gần của VNINDEX nằm tại 680-685 điểm và 690-695 điểm. Vùng hỗ trợ gần của VNINDEX nằm tại 665- 670 điểm và 650-655 điểm.

VCSC

Quan điểm kỹ thuật: Tín hiệu kỹ thuật ngắn hạn của các chỉ số đều bị hạ xuống một bậc. Tín hiệu của VN-Index chuyển về mức Trung tính còn của VN30 quay về mức Tiêu cực. Chỉ số HNX-Index tiếp tục nằm trong xu hướng giảm của thị trường con gấu. Với các tín hiệu này, nhiều khả năng quán tính giảm sẽ duy trì trong phiên ngày mai. Tín hiệu trung hạn của thị trường cũng không thực sự ủng hộ bên nắm giữ cổ phiếu. Tín hiệu của VN-Index và VN30 đang ở mức Trung tính với các ngưỡng hỗ trợ phía dưới tại 663 và 620 điểm, trong khi tín hiệu của HNX-Index đã chuyển xuống tiêu cực từ khá lâu.

VDSC

Thị trường đồng loạt điều chỉnh trở lại cho thấy áp lực bán gia tăng khi thị trường tiến về vùng kháng cự, nhưng xu hướng hồi phục chưa bị phá vỡ. Nhà đầu tư vẫn có thể đầu tư vào các nhóm cổ phiếu đang thu hút dòng tiền.

VN-Index: Sau hai phiên tăng điểm, VN-Index đã quay đầu giảm trở lại xuống dưới ngưỡng MA26 và đường MA26 cũng đang đi xuống, tín hiệu này đang kìm hãm đà hồi phục của đường giá. Bên cạnh đó, khối lượng giao dịch khớp lệnh trong phiên cũng tăng nhẹ so với hai phiên tăng trước đó cho thấy áp lực bán có tăng trở lại khi đường giá tiến gần ngưỡng kháng cự quanh 680 điểm. Các chỉ báo kỹ thuật có sự điều chỉnh trở lại, đường RSI đi xuống nhưng vẫn còn giữ đươc xu hướng hồi phục, trong khi đường MACD histogram có tín hiệu đi xuống sâu hơn ở dưới ngưỡng 0. Như vậy, VN-Index vẫn đang biến động với sự kháng cự ở quanh ngưỡng 680 điểm và ngưỡng hỗ trợ ở mức quanh 665 điểm.

HNX-Index: HNX-Index giảm hai phiên liên tiếp nhưng vẫn chưa xuống dưới ½ thân nến của phiên hồi phục mạnh ngày 10/11 là tín hiệu tích cực cho đường giá, tuy nhiên xu hướng của HNX-Index hiện tại đang biến động giằng co trong vùng 80-82 điểm, với sự kháng cự mạnh ở ngưỡng 82 điểm, với sự kháng cự đồng thời của hai đường MA26 và MA200 Các chỉ báo kỹ thuật biến động yếu, RSI đi xuống trong khi MACD histogram vẫn đi lên nhẹ.

Theo dõi khuyến nghị

PTKT
KHUYẾN NGHỊ MUA
TCKN Ngày KN Giá hiện tại Giá KN Giá  mục tiêu Giá cutloss
PVS BSC 13/10/16 17.3 20.8 24.0 20.0
VNR BSC 27/9/16 22.1 21.5-21.8 23.3 20.5
CSV BSC 28/9/16 27.7 31.3-31.8 35.2 28.7
CAV BSC 25/10/16 93.5 99.5 114 90
KHUYẾN NGHỊ NẮM GIỮ
TCKN Ngày KN Giá hiện tại Giá KN Giá  mục tiêu Giá cutloss
REE HSC 10/10/2016 21.6 20.5-21.5 26.0 19.5
PPC HSC 21/9/16 15.15 14.4 18.0 13.1
HSG HSC 20/9/16 44.2 40.8 – 41.1 50.0 38.0

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s