28/07/2017 BID, NKG, TCM, PC1, VJC

HSC

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
BID            20.7 0.49% 11.39 1.57

NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID – Nâng đánh giá từ Kém khả quan lên NẮM GIỮ) công bố LNTT hợp nhất 6 tháng đầu năm tăng khiêm tốn. Nhìn chung sát dự báo và tương đương 48,61% dự báo ban đầu về LNTT cả năm của HSC.

Cho vay khách hàng tăng 11,56% so với đầu năm – Tổng cho vay khách hàng tăng 11,56% so với đầu năm đạt 807,37 nghìn tỷ đồng. Chúng tôi chưa có số liệu cụ thể về phân loại cho vay khách hàng theo ngành ở thời điểm này, tuy vậy, chúng tôi giả định cho vay khách hàng cá nhân là động lực tăng trưởng chính tương tự như ở hầu hết các ngân hàng khác trong 6 tháng đầu năm.

Tiền gửi của khách hàng tăng 11,78% so với đầu năm – đạt 811,51 nghìn tỷ đồng.

Hệ số LDR thuần giữ nguyên tại 99,49% – Với thực tế cho vay/huy động bằng USD tăng gần như tương đương với cho vay/huy động bằng USD, hệ số LDR thuần cho mỗi loại tiền đều ở mức cao và nhìn chung không đổi. Hệ số LDR thuần đối với VND là 95,04% (là 96,04% vào cuối năm 2016). Trong khi đó hệ số LDR thuần tiền USD là 168,71% (năm 2016 là 162,11%).

Tỷ lệ NIM tăng 0,33% lên 2,85% – từ mức 2,51% trong 6 tháng đầu năm 2016 và cũng tăng nhẹ 0,06% từ 2,78% vào cuối năm 2016.

Một xu hướng khác cần lưu ý là do tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn ở hầu hết các ngân hàng trong 6 tháng đầu năm là khoảng 40% -45% (mức trần cho phép trong năm nay là 50% và 40% cho năm sau), hầu hết các ngân hàng, bao gồm cả BID phải tăng huy động tiền gửi trung và dài hạn và chuyển sang cho vay ngắn hạn nhiều hơn.

Tổng tài sản sinh lãi tăng 21,10% so với cùng kỳ đạt 1.046 nghìn tỷ đồng – và không có nhiều thay đổi trong cơ cấu tài sản sinh lãi. Cụ thể, 77% tài sản sinh lãi là cho vay khách hàng, 15,33% là doanh mục trái phiếu, và chỉ 7,5% là cho vay liên ngân hàng. Do đó, cùng với tỷ lệ NIM tăng 0,33%, chúng tôi thấy rằng, Tổng thu nhập lãi thuần tăng trưởng tốt, tăng 37,30% so với cùng kỳ đạt 14.007 tỷ đồng.

Tuy nhiên, tổng thu nhập ngoài lãi giảm 16,39% so với cùng kỳ là 2.787 tỷ đồng – lưu ý ở đây là trong 6 tháng đầu năm 2016, BID đã ghi nhận khoảng 800 tỷ đồng lợi nhuận từ chuyển nhượng cổ phần tại VID. Do đó, nếu không tính đến khoản lợi nhuận bất thường này, thu nhập ngoài lãi trong 6 tháng đầu năm nay thực tế đã tăng 10,19%.

Hầu hết các thu nhập được cải thiện nhưng tổng thu nhập hoạt động bị ảnh hưởng do thu nhập cổ tức từ công ty con giảm mạnh do (1) không còn khoản lãi từ thoái vốn VID và (2) lỗ khác từ thu nhập góp vốn mua cổ phần. Tuy nhiên hiện vẫn chưa có thông tin chi tiết trên BCTC nên chúng tôi không biết công ty con nào đã đóng góp vào khoản lỗ này.

Tổng chi phí hoạt động tăng 20,40% lên 6.879 tỷ đồng – chủ yếu do chi phí lương tăng (tăng 23,36% sov ới cùng kỳ lên 4.032 tỷ đồng). Trong khi đó tổng số nhân viên chỉ tăng 3,52% so với cùng kỳ lên 24.804 nhân viên. Theo đó, chi phí lương bình quân theo tháng của mỗi nhân viên tăng lên 27,04 triệu đồng; là mức rất cao so với các ngân hàng khác. Chi phí liên quan đến tài sản cũng tăng 19% so với cùng kỳ lên 1.253 tỷ đồng. Chi phí quản lý khác cũng tăng 8,8% so với cùng kỳ lên 1.263 tỷ đồng.

Ngân hàng sẽ tích cực hơn nhiều trong công tác trích lập dự phòng trong năm nay – theo đó tỷ lệ lợi nhuận trước trích lập dùng để trích lập dự phòng tăng (tăng lên 62,60% từ 57,46% trong 6 tháng đầu năm).

Chi phí dự phòng tăng do Ngân hàng tăng trích lập dự phòng cho các khoản cho vay khách hàng – chúng tôi ước tính chi phí dự phòng cho vay khách hàng tăng 57,46% so với cùng kỳ lên 4.911 tỷ đồng. Trong khi đó chi phí dự phòng trích lập cho trái phiếu VAMC gần như giữ nguyên ở 1.295 tỷ đồng (giảm 0,52% so với cùng kỳ). Chúng tôi ước tính BID vẫn còn 20.650 tỷ đồng trái phiếu VAMC và dự phòng lũy kế trích lập là 7.110 tỷ đồng. Như vậy, khối lượng trái phiếu VAMC chưa được trích lập dự phòng là khoảng 13.539 tỷ đồng, tương đương 1,67% dư nợ hiện tại của Ngân hàng, là mức thấp nêu so với bình quân của toàn bộ ngành ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2016 là 3,68%.

Cho năm 2017, HSC điều chỉnh tăng dự báo LNTT thêm 2% từ 7.629 tỷ đồng (giảm 1,37%) lên 7.784 tỷ đồng (tăng trưởng 0,65%). Những điều chỉnh chủ chốt trong giải định của chúng tôi gồm: giả định cao hơn cho tăng trưởng tín dụng (tăng 12% lên 17% do tín dụng 6 tháng đầu năm tăng trưởng mạnh) và giả định cao hơn cho chi phí dự phòng (từ 11.311 tỷ đồng lên 12.068 tỷ đồng).

Ngày càng nhiều NĐT trên thị trường kỳ vọng BID có thể phát hành riêng lẻ 10-20% cổ phần cho một ngân hàng nước ngoài trước cuối năm. Trên thực tế sau gần 3 năm tìm cách nâng vốn cấp 1, thì hiện có vẻ là thời điểm khá thích hợp.

Nâng đánh giá từ Kém khả quan lên Nắm giữ. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu BID là 20.000đ; tương đương P/B là 1,4 lần. Triển vọng tăng vốn cấp 1 trong năm nay là cao và hy vọng chất lượng tài sản được cải thiện trong tương lai nhờ Ngân hàng tích cực hơn trong công tác trích lập dự phòng. Theo đó Ngân hàng sẽ cải thiện dần các hệ số an toàn tài chính. Chúng tôi cũng giả định Ngân hàng sẽ không phải trả cổ tức tiền mặt từ năm sau nhờ quy định mới. Khả năng tăng vốn cấp 1 ngay trong nửa cuối năm nay sẽ tạo điều kiện để quy mô tài sản của BID tăng thêm. Trong khi đó việc được phép giữ lại lợi nhuận mà không chi trả cổ tức tiền mặt giúp Ngân hàng có thể tích cực hơn trong trích lập dự phòng. BID vẫn phải xử lý một số khoản nợ xấu từ trước để lại, chủ yếu liên quan đến nhiều dự án của DNNN. Và do ban lãnh đạo chú trọng xử lý nợ xấu nên triển vọng tăng trưởng lợi nhuận sẽ khiêm tốn. Và trong tương lai BID sẽ cần tiếp tục tăng vốn để chuẩn bị áp dụng Basel 2. Do vậy chúng tôi cho rằng cổ phiếu BID vẫn còn rủi ro pha loãng.

SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 21/6/17 26/6/17 27/7/17      
Khuyến nghị Nắm giữ Mua Nắm giữ      
Giá mục tiêu 18.5 24.7 20      

 

BSC

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
NKG            32.0 0.31% 4.70 1.22

Sản lượng xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng tốt. Tổng Sản lượng tiêu thụ trong 6T2017 là 382,061 tấn (+8%yoy). Trong đó sản lượng xuất khẩu là 152,030 tấn (+22%yoy) cùng kỳ 2016 là 124,849 tấn. Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu (theo sản lượng) chủ yếu là Indonesia 37% – Mỹ 17% – Malaysia 8% (cùng kỳ 2016 lần lượt là 53% – 11% – 7%), bên cạnh đó NKG đang đẩy mạnh xuất khẩu qua châu Âu, Úc và một số thị trường khác đang điều tra CBPG với thép Trung Quốc.

KQKD 6T2017 bị ảnh hưởng mạnh bởi diễn biến bất lợi của giá nguyên liệu trong Q2, DTT 6T2017 của NKG đạt 5,487 tỷ đồng (+38.09%yoy), biên LNG 6T2017 là 11.75%, giảm so với cùng kỳ 2016 (12.48%) nguyên nhân do trong quý 2/2017 giá quặng sắt Thế giới diễn biến bất lợi, giá quặng 62% Fe giảm từ đỉnh 92.46 USD/tấn (tháng 2/2017) và tạo đáy 56.07 USD ngày 31/05/2017, dẫn tới sự giảm giá của HRC và kéo theo giảm giá bán thành phẩm của các doanh nghiệp Thép. Biên lợi nhuận gộp trong Q2 của NKG giảm còn 10.92%, trong điều kiện ổn định biên lợi nhuận gộp thường giao động ở mức 12 – 13%, nếu giá nguyên liệu giảm, thị trường khó khăn thì biên LNG có thể chỉ đạt 5 – 10%. Tỷ lệ chi phí lãi vay / DTT trong 6T2017 là 2.19%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước (1.48%) do NKG đang trong giai đoạn đầu tư dự án Nam Kim 3. Tỷ lệ chi phí bán hàng / DTT trong 6T2017 là 2.26%, cũng tăng so với mức 1.5% của cùng kỳ 2016. Nguyên nhân chủ yếu do NKG tăng xuất khẩu (+22%yoy), do đó tăng thêm chi phí vận chuyển và bảo hiểm; bên cạnh đó, NKG cũng đẩy mạnh quảng bá trong nước nhằm tăng thị phần, ước tính chi phí chi cho marketing khoảng 3 – 4 tỷ đồng mỗi tháng.

Cập nhật về dự án Nam Kim 3 và các dự án khác. Tháng 3/2017, NKG đã đưa vào vận hành dây chuyền cán nguội công suất 400,000 tấn/năm. Dự kiến trong tháng 8, NKG sẽ đưa vào vận hành 1 dây chuyền mạ NOF công suất 150,000 tấn/năm và 1 dây chuyền mạ màu công suất 120,000 tấn/năm. Ngoài ra, trong tháng 10/2017, sẽ vận hành dây chuyền cán nguội công suất 200,000 tấn/năm. Q1/2018, 1 dây chuyền mạ NOF công suất 350,000 tấn/năm sẽ được hoàn thiện. Dự kiến sau khi hoàn thành dự án Nam Kim 3, tổng công suất cán nguội của NKG sẽ đạt 1 triệu tấn/năm và công suất mạ là 1.2 triệu tấn/năm.

Ngoài ra, trong tháng 5/2017, NKG đã đưa vào hoạt động Nhà máy Ống thép kẽm Long An công suất 180,000 tấn/năm, giúp đảm bảo hoạt động kinh doanh bền vững hơn khi thị trường tôn mạ gặp khó khăn.

Dự báo diễn biến giá quặng sắt sẽ không biến động bất lợi như Q2. Đầu năm 2017, nhu cầu đầu tư hạ tầng và bất động sản tại Trung Quốc (nước chiếm tới 65% tổng nhập khẩu quặng sắt toàn cầu) tăng vọt dẫn tới giá quặng sắt tạo đỉnh 92.46 USD/tấn trong tháng 2/2017. Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng liên quan đến việc tài trợ các hợp đồng bất động sản tại Trung Quốc bị giám sát nghiêm ngặt hơn, cung tiền M2 giảm 9.6%yoy trong tháng 5/2017, các nhà tạo lập thị trường phải củng cố lại đòn bẩy tài chính và bán lượng quặng nắm giữ, giá quặng sắt lao dốc, và tạo đáy 56.07 USD ngày 31/05/2017. Chúng tôi cho rằng diễn biến giá quặng sắt và giá thép lao dốc như trong Q2 sẽ khó xảy ra trong Q3 do kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng ổn định, tăng trưởng GDP Q2 đạt 6.9%, đại hội Đảng Trung Quốc sẽ diễn ra vào cuối năm 2017, cùng với đó Trung Quốc cũng đang tích cực cắt giảm công suất sản xuất thép, dự kiến cắt giảm 50 triệu tấn năm 2017 (năm 2016 cắt giảm 65 triệu tấn, tổng công suất thép của TQ năm 2016 là 980 triệu tấn). Theo thống kê của Bloomberg, dự báo giá Quặng 62% Fe sẽ theo xu hướng ổn định, giá trong Q3 và Q4 2017 lần lượt là 58.83 USD và 56.45 USD/tấn; giá trung bình năm 2018 giảm về khoảng 51.25 USD/tấn

Về việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho đối tác chiến lược. Trong tháng 7/2017, NKG đã tiến hành đại hội cổ đông bất thường để xin ý kiến về việc phát hành thêm 30 triệu cổ phiếu cho đối tác chiến lược. Giá dự kiến phát hành sẽ không thấp hơn 27,000 đồng/cp, số tiền thu được tối thiểu từ đợt phát hành dự kiến là 810 tỷ đồng trong đó bổ sung vốn lưu động là 400 tỷ đồng, bổ sung vốn cho dự án Nam Kim 3 là 150 tỷ đồng và đầu tư vào Dự án Nam Kim Corea là 260 tỷ đồng. Thời gian dự kiến phát hành là Q3 – Q4/2017 sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Chúng tôi cho rằng, việc phát hành tăng vốn sẽ giúp tình hình tài chính của doanh nghiệp vững chắc hơn, giảm thiểu rủi ro vay nợ và có thêm tiềm lực để phát triển sản xuất, thị trường tiêu thụ.

Chúng tôi vẫn duy trì khuyến nghị Mua trung và dài hạn cổ phiếu NKG, giá mục tiêu 42,992 đồng/cp như trong báo cáo triển vọng Ngành Q3 2017. BSC ước tính DT 2017 đạt 12,093 tỷ đồng, LNST 2017 đạt 711 tỷ đồng, EPS 2017 = 7,179 đồng (chưa tính số lượng cp mới phát hành riêng lẻ). Ngày 26/07/2017, cổ phiếu NKG được giao dịch với giá 31,850 đồng, PE FW = 4.44x. Nếu tính theo số lượng CP mới sau phát hành riêng lẻ, thì EPS 2017 = 5,470 đồng, PE FW = 5.82x.

  SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 17/7/17     19/7/17   27/7/17
Khuyến nghị Nắm giữ     Mua   Mua
Giá mục tiêu 35.7     39.8   43

 

VDSC

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
TCM            28.3 -1.91% 8.00 1.44

Mặt dù doanh thu chung không tăng trưởng, TCM vẫn cho thấy sự cải thiện vượt bậc về mặt lợi nhuận.

Mảng sợi: cắt lỗ từ các nhà máy hoạt động kém hiệu quả

Sản lượng sợi bán ra giảm sút là nguyên nhân chính khiến doanh thu của TCM không tăng trưởng. Tuy nhiên, do mảng sợi vẫn đang ghi nhận lỗ (dù đã giảm hơn 80% so với cùng kỳ) nên điều này đã hỗ trợ tích cực cho lợi nhuận chung của TCM.

Sau khi đóng cửa nhà máy sợi 1 ở quận 4, TCM dự kiến sẽ tiếp tục đóng cửa nhà máy sợi 3 ở Long an trong năm nay; đây đều là các nhà máy hoạt động kém hiệu quả và là nguyên nhân chính khiến mảng sợi của TCM chịu lỗ. Sản phẩm của nhà máy số 3 là sợi OE, đang phải bán lỗ với biên gộp âm (-5%), trong khi các loại sợi khác từ nhà máy sợi số 4 (nhà máy sản xuất chính) có thể mang lại biên gộp từ 7%-8%. Trong trường hợp đóng cửa nhà máy sợi 3, hoạt động của các bộ phận khác sẽ không bị ảnh hưởng nhiều do sợi OE chủ yếu được dùng để xuất khẩu, còn sợi dùng nội bộ đa số do nhà máy sợi 4 cung cấp.

Mảng vải: triển vọng tăng trưởng còn nhiều

Được đẩy mạnh từ cuối năm 2016 với năng lực sản xuất tăng lên 10 triệu m vải/năm (từ 7 triệu m), vải dệt thoi tiếp tục cho thấy tiềm năng phát triển khi sản lượng bán ra trong nửa đầu năm 2017 đạt xấp xỉ 4 triệu m vải (+20% so với cùng kỳ), đóng góp 9% vào doanh thu TCM. Với biên gộp cao (16%-18%), cùng lực cầu ổn định từ các đối tác Nhật Bản, chúng tôi tiếp tục đánh giá lạc quan mảng sản phẩm này trong thời gian tới.

Về khả năng mở rộng hoạt động mảng vải, chúng tôi cho rằng đây sẽ chưa phải là câu chuyện trong năm nay. Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý là: TCM đang có kế hoạch sẽ tập trung các hoạt động tại KCN Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long, nơi cho phép các doanh nghiệp mở rộng hoạt động nhuộm và hoàn tất vải, điều bị hạn chế ở nhiều KCN khác. Do đó, chúng tôi cho rằng việc mở rộng năng lực mảng vải chỉ còn là vấn đề thời gian.

Mảng may: chịu ảnh hưởng trái chiều

May mặc tiếp tục là hoạt động kinh doanh cốt lõi của TCM với đóng góp doanh thu và lợi nhuận gộp lần lượt 66% và 80%. Sự cải thiện của lợi nhuận mảng may trong nửa đầu năm được đóng góp chủ yếu bởi nhà máy Vĩnh Long. Hiện hơn một nửa đơn hàng được nhà máy sản xuất với năng suất lao động bình quân xấp xỉ điểm hòa vốn, $30/công nhân/ngày. Các đơn hàng còn lại có độ phức tạp cao hơn nên năng suất lao động chỉ ở mức $27-28/công nhân/ngày. Nhìn chung, nhà máy Vĩnh Long nhiều khả năng sẽ tiếp tục ghi nhận lỗ trong năm nay, nhưng mức độ sẽ thấp hơn nhiều so với 2016.

Điều chúng tôi lo ngại nhất chính là việc tỷ trọng đóng góp doanh thu từ Eland đã giảm đáng kể xuống còn 24%, từ 30% trong cùng kỳ. Đơn hàng từ Eland thường mang lại biên lãi gộp lên đến 22%-24%, cao hơn nhiều so với mức 16%-18% từ các khách hàng khác, nên điều này đã khiến biên gộp mảng may giảm từ 21-22% (6T 2016) xuống còn 19-20% (6T 2017). Về nguyên nhân của sự sụt giảm đơn hàng, chúng tôi cho rằng việc Eland bán đi thương hiệu Teenie Weenie cho V-Grass Fashion, một công ty ở Trung Quốc là nguyên nhân chính. Nhiều khả năng công ty Trung Quốc này đã sử dụng mạng lưới gia công của họ để thay thế TCM.

Đánh giá chung

Dựa trên kế hoạch 110 tỷ đồng LNST trong nửa cuối năm nay, lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh cốt lõi của TCM có thể đạt 195 tỷ đồng, tương đương với EPS ~3.300 đồng (sau khi trừ đi quỹ khen thưởng phúc lợi). Dựa trên mức giá đóng cửa ngày hôm nay, TCM đang được giao dịch với P/E forward ~8,6, không thật sự rẻ nếu so với mức trung bình P/E = 7 của ngành. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng TCM vẫn còn hấp dẫn khi nhìn vào lợi thế chuỗi sản xuất khép kín của Công ty, các khoản doanh thu đột biến từ chuyển nhượng đất, cùng khả năng nới room ngay trong tháng 8 này.

  SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 11/5/17 16/5/17 11/4/17 4/4/17    
Khuyến nghị Nắm giữ Khả quan Khả quan Tích lũy    
Giá mục tiêu 29.8 31.3 26 25.3    

 

VCSC

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
PC1            35.0 4.17% 12.67 1.31

CTCP Xây lắp Điện 1 (PC1) đã công bố KQKD chính thức quý 2 với doanh thu và LNST hợp nhất giảm lần lượt 11,9% và 40,2% so với cùng kỳ năm ngoái (YoY), chủ yếu do không có đóng góp từ mảng BĐS. Không tính mảng BĐS, doanh thu và LNST tăng lần lượt 19,3% YoY và 11,8% YoY, nhờ đóng góp của mảng thủy điện.

Doanh thu từ mảng xây lắp điện chỉ tăng 1,6% YoY khi phần lớn dự án dự kiến sẽ hoàn thành trong 6 tháng cuối năm. Trong 6 tháng 2017, PC1 đã ký kết các hợp đồng mới trị giá 1,4 nghìn tỷ đồng, tương ứng với tổng lượng backlog (các hợp đồng đã ký và chưa thực hiện) 2,7 nghìn tỷ đồng. Công ty dự kiến tổng giá trị hợp đồng ký mới trong 6 tháng cuối năm đạt 1,2 nghìn tỷ đồng. Con số này tương ứng với tổng lượng backlog 4 nghìn tỷ đồng trong năm 2017. Do đó, dự báo doanh thu của chúng tôi 2,2 nghìn tỷ đồng (+20% trong năm 2016) là hợp lý.

Doanh thu mảng sản xuất trụ điện giảm 32,7% YoY khi hợp đồng xuất khẩu 4.000 tấn sang Bangladesh sẽ chuyển qua ghi nhận trong quý 3. Tính đến cuối quý 2, lượng backlog cộng dồn là 413 tỷ đồng, trong khi công ty dự kiến ký kết thêm 400 tỷ đồng trong năm 2017. Tổng backlog đạt 813 tỷ đồng đảm bảo cho dự báo doanh thu 668 tỷ đồng (+30% so với 2016).

Nhà máy thủy điện Trung Thu và Bảo Lâm 1 tiếp tục hoạt động tối đa so với công suất thiết kế từ khi đi vào hoạt động lần lượt trong tháng 11 và 12 năm ngoái. Doanh thu từ mảng thủy điện đạt 111 tỷ đồng, đạt 47,9% dự báo cả năm của chúng tôi.

Nhà máy Gang thép Cao Bằng, công ty liên doanh của PC1, ghi nhận lỗ 6 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2017 khi thu nhập không đủ bù đắp cho chi phí lãi vay. PC1 vẫn kỳ vọng liên doanh sẽ ghi nhận lợi nhuận trong năm nay.

Kết quả doanh thu và LNST chiếm lần lượt 40% và 36,4% dự báo cả năm của chúng tôi, phù hợp với kỳ vọng của chúng tôi do công ty thường hoàn thành và ghi nhận phần lớn doanh thu từ xây lắp trong quý 4. Do đó, chúng tôi không kỳ vọng có thay đổi đáng kể giá mục tiêu trong báo cáo cập nhật sắp tới.

Chúng tôi hiện đang khuyến nghị giá mục tiêu 38.500 đồng/CP, tương ứng với tổng mức sinh lời 10%. Theo giá đóng cửa hôm nay, PC1 hiện đang giao dịch với P/E dự phóng 10,2 lần.

  SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 27/2/17 27/7/17   1/7/17 15/6/17  
Khuyến nghị Mua Mua   Trung lập Outperform  
Giá mục tiêu 37.7 38.5   34.9 38  

 

  Giá hiện tại %Change (T+3) P/E P/B
VJC          126.2 0.16% 15.17 8.00

Theo công bố của CTCP Hàng không Vietjet (VJC) về KQKD 6 tháng 2017 của công ty mẹ, VJC đã ghi nhận tổng doanh thu không tính bán máy bay là 10,7 nghìn tỷ đồng, tăng 45% so với 6 tháng 2016. Tính theo từng mảng, doanh thu vận tải hành khách tăng mạnh 46% đạt 8,2 nghìn tỷ đồng, trong khi doanh thu phụ trợ hàng không tăng mạnh 51% đạt 2,5 nghìn tỷ đồng. KQKD này chủ yếu được hỗ trợ từ mức tăng trưởng hành khách 22%, gia tăng các chuyến bay dài và giá vé máy bay cao hơn do giá nhiên liệu cao hơn. Biên LN gộp tăng nhẹ đạt 15,8% trong 6 tháng 2017 từ mức 15,4% trong 6 tháng 2016.

Trong nửa đầu 2017, không tính chuyến bay thuê riêng, VJC đã mở 13 đường bay mới (1 tuyến bay nội địa và 12 tuyến quốc tế) và hoàn thành 49.151 chuyến bay với tỷ lệ On-Time Performance (OTP-hệ số đúng giờ) 85,7%, cải thiện từ mức 83,6% trong năm 2016. Công suất khai thác giảm nhẹ còn 87,7% trong 6 tháng 2017 từ mức 88,2% trong năm 2016. Tính đến cuối tháng 6/2017, tồng số đường bay đạt 38 đường bay trong nước và 35 đường bay quốc tế.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, VJC đã nhận được 5 máy bay A321 mới thông qua hoạt động Bán và thuê lại (SALB) và thuê ướt 5 máy bay khác. KQKD hợp nhất, vốn bao gồm cả hoạt động SALB, dự kiến sẽ được công bố trong vài ngày tới. Tuy nhiên, qua trao đổi của chúng tôi với phía công ty, VJC đã ghi nhận mức lợi nhuận khoảng 6 triệu USD/máy bay thông qua SALB 6 tháng 2017 (so với 6,9 triệu USD năm 2016), phù hợp với dự báo của chúng tôi. VJC cũng giữ kế hoạch nhận thêm 17 máy bay mới trong năm 2017, bao gồm 15 máy bay thông qua SALB và 2 máy bay mua trực tiếp.

Hiện tại, trong năm 2017, chúng tôi dự báo doanh thu hợp nhất đạt 40,8 nghìn tỷ đồng (+48% so với 2016) và LNST 3,4 nghìn tỷ đồng (+35% so với 2016), chủ yếu được dẫn dắt bởi 14 tuyến bay quốc tế mới, gia tăng tầng suất các tuyến bay trong nước và 15 giao dịch SALB so với 11 giao dịch năm 2016.

Chúng tôi hiện đang có khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG với giá mục tiêu 132.600 đồng/CP cho VJC, tương ứng với tổng mức sinh lời 7,3% đã bao gồm 2,3% lợi suất cổ tức. Chúng tôi sẽ công bố báo cáo cập nhật trong thời gian tới khi báo cáo tài chính hợp nhất được công bố.

  SSI VCSC HSC VDSC BVSC BSC
Ngày ra báo cáo 11/5/17 3/5/2017 26/7/17 1/7/17 27/2/17  
Khuyến nghị Nắm giữ PHTT Nắm giữ Trung lập Outperform  
Giá mục tiêu 140.4 132.6 135 121 143.4  

 

CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

 

BVSC

VN-Index: VNINDEX đóng cửa giảm điểm và chớm cắt xuống đường SMA20. Điều này có thể khiến chỉ số tiếp tục điều chỉnh trong phiên kế tiếp tuy nhiên chúng tôi cho rằng sau nhịp hồi phục mạnh thì phản ứng điều chỉnh của thị trường là cần thiết để giúp cân bằng lại tương quan cung cầu ở các nhóm cổ phiếu. Thanh khoản tiếp tục duy trì ở mức trung bình, còn độ rộng thị trường nghiêng về phía các mã giảm điểm tuy nhiên sự chênh lệch là không nhiều. Lực cầu vẫn đang hấp thụ khá tốt áp lực chốt lời của dòng tiền bắt đáy. Đây là một tín hiệu tốt đối với quá trình hồi phục của chỉ số. Sau khi vượt qua vùng kháng cự 772- 773 điểm, chỉ số đang có nhiều cơ hội xác lập lại xu hướng tăng điểm ngắn hạn. Nếu tiếp tục vượt qua ngưỡng 775 điểm trong phiên kế tiếp, thì có thể xem đây là tín hiệu xác nhận cho khả năng xảy ra kịch bản trên. Tuy nhiên, sau 2 phiên hồi phục mạnh, chỉ số có thể sẽ xuất hiện một vài phiên điều chỉnh tích lũy quanh đường SMA20, trước khi phát đi những tín hiệu xác nhận rõ nét hơn về xu hướng kế tiếp. Trên khung thời gian intraday, như chúng tôi đã đề cập, sau khi vượt qua vùng kháng cự quanh 772 điểm, đường giá nhiều khả năng sẽ xuất hiện áp lực chốt lời và điều chỉnh. Sự điều chỉnh đã bắt đầu diễn ra vào nửa cuối phiên giao dịch hôm nay và đường giá nhiều khả năng sẽ lui về kiểm tra vùng hỗ trợ 766- 769 điểm trong phiên kế tiếp. Nếu chỉ số bật tăng trở lại tại vùng hỗ trợ này, đồng thời vượt qua ngưỡng 775 điểm thì có thể kỳ vọng chỉ số sẽ bước vào nhịp tăng điểm mới trong ngắn hạn. Vùng kháng cự của chỉ số nằm tại quanh 775 điểm và 783-785 điểm. Vùng hỗ trợ gần của chỉ số nằm tại quanh 766 điểm và 755-757 điểm.

VCSC

Quan điểm kỹ thuật: : Các tín hiệu kỹ thuật ngắn hạn nhìn chung vẫn duy trì được trạng thái của phiên 26/7: VN30, HNX-Index, VNMidcap giữ tín hiệu Trung tính do chưa thể vượt qua được ngưỡng kháng cự MA20 ngày. VNSmallcap vẫn giữ tín hiệu Tích cực dù chưa vượt qua được mốc đỉnh cũ. Duy chỉ có chỉ số VN-Index, do PLX giảm giá, đã thay đổi tín hiệu ngắn hạn từ Tích cực xuống Trung tính. Do vậy, nhiều khả năng, thị trường tiếp tục sẽ chịu áp lực giảm điểm trong phiên giao dịch ngày mai. VN-Index có thể sẽ kiểm định vùng hỗ trợ tại 767-768 điểm trong khi HNX-Index sẽ kiểm định hỗ trợ ngắn hạn tại 98,5 điểm. Nhìn chung, chúng tôi vẫn chưa thấy thị trường có đủ tín hiệu bền vững để mở vị thế mua ngắn hạn.

VDSC

Hai chỉ số đóng cửa với hai sắc thái trái chiều nhưng nhìn chung đà hồi phục đã chững lại do lực cầu mua vào dè dặt hơn và áp lực bán gia tăng khi VN-Index và HNX-Index dần tiến lên vùng kháng cự, hiện tại trạng thái xu hướng vẫn chưa có sự cải thiện đáng kể , do đó nhà đầu tư vẫn nên theo dõi và chờ đợi những tín hiệu rõ ràng hơn.

VN-Index: Áp lực bán mạnh hơn khiến đà tăng bị chững lại, nến đỏ với biên độ dao động hẹp kèm theo khối lượng tăng lên cho thấy sự giằng co giữa bên mua và bán sau hai nến xanh liền trước. Các chỉ báo kỹ thuật tiếp tục có sự hồi phục, stochastic tăng lên từ vùng quá bán, RSI vượt trên ngưỡng 50 và MACD cũng tăng dần về đường tín hiệu thể hiện trạng thái xu hướng đang dần cân bằng trở lại. Với diễn biến hồi phục trong các phiên gần đây mới chỉ giúp VNIndex cân bằng lại đà giảm trước đó chứ chưa đủ tín hiệu để mở ra một xu hướng tăng giá mới trước khi mức kháng cự 780 điểm chưa được chinh phục.

HNX-Index: Áp lực bán mạnh hơn sau hai phiên hồi phục khiến đà tăng dường như bị chùn bước khiến đường giá đóng cửa với nến xanh có biên độ dao động khá hẹp, lực mua vẫn còn khá dè dặt và chưa sẵn sàng chấp nhận giá cao. Các chỉ báo kỹ thuật tiếp tục có sự cải thiện khi Stochastic tăng trở lại từ vùng quá bán, RSI cũng tiến lên trên ngưỡng 50, MACD Histogram tăng trở lại về dường 0 thể hiện trạng thái xu hướng đang dần được cân bằng sau nhịp giảm trước đó. Với các phiên hòi phục vừa qua, HNX-Index chưa thể bước vào xu hướng tăng mới mà nhiều khả năng sẽ tích lũy xoay quanh 99,5 điểm, các vùng kháng cự và hỗ trợ là 100 điểm và 97,5 điểm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s